Bảo vệ sức khỏe - San sẻ âu lo!


Thời gian KCB



Khám BHYT

  • 07:00 S → 19:00 C

  • Thứ 2 → Chủ nhật


Cấp cứu

  • Hoạt động 24/24

  • Sđt: 02353 845 900

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay51
mod_vvisit_counterHôm qua146
mod_vvisit_counterTuần này766
mod_vvisit_counterTuần trước1461
mod_vvisit_counterTháng này3316
mod_vvisit_counterTháng trước6765
mod_vvisit_counterTất cả2127741

Chúng ta có: 16 Khách trực tuyến

Liên kết

Tin tức

Một vài thông tin về các loại giun thường gặp ở trẻ em

Email In PDF.

GIUN ĐŨA

1. Nguồn truyền nhiễm.

- Ổ chứa: là người đặc biệt là trẻ em; ổ chứa trứng giun là đất, nước nhiễm phân.

- Thời gian ủ bệnh: không rõ ràng. Người nuốt phải trứng giun, khi đến ruột non trứng nở giải phóng ấu trùng, ấu trùng chui qua thành ruột vào máu, di chuyển đến phế nang phổi và phát triển lớn lên tại phổi, sau đó ấu trùng lên khí quản và được nuốt lại vào dạ dày. Tại ruột non, ấu trùng phát triển thành giun đũa trưởng thành. Thời gian từ khi nuốt phải trứng có ấu trùng đến khi có các triệu chứng đầu tiên của nhiễm giun ở phổi từ 5-14 ngày. Thời gian từ khi người nuốt phải trứng có ấu trùng đến khi giun trưởng thành đẻ trứng khoảng 45 đến 60 ngày.
- Thời kỳ lây truyền: là khoảng thời gian sống của giun cái trưởng thành từ khi được thụ tinh. Giun đũa cái có khả năng đẻ trên 200.000 trứng/ngày. Đời sống của giun đũa từ 13-15 tháng. Trứng giun chỉ phát triển và có khả năng lây nhiễm khi bị thải theo phân ra ngoài ngoại cảnh.

2. Phương thức lây truyền: Qua đường ăn uống: do nuốt phải trứng giun có trong đất bị nhiễm phân người. Không lây truyền trực tiếp từ người sang người. 

GIUN MÓC

 

1. Nguồn truyền nhiễm.

- Ổ chứa: là người, đặc biệt là người hay tiếp xúc với đất nhiễm phân.
- Thời gian ủ bệnh: Thời gian từ khi ấu trùng xâm nhập vào cơ thể qua da, niêm mạc lên tim, phổi và bị nuốt trở lại vào dạ dày, ruột non đến khi thành giun trưởng thành khoảng 42 - 45 ngày. Trường hợp ấu trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường thức ăn, nước uống thì chúng không di chuyển qua phổi mà ký sinh trực tiếp tại tá tràng hoặc ruột non. Tuy nhiên, có một số ấu trùng giữ trạng thái tiềm tàng ở các tổ chức tới 8 tháng sau mới phát triển thành giun trưởng thành.
- Thời kỳ lây truyền: là khoảng thời gian sống của giun cái trưởng thành từ khi được thụ tinh và đẻ trứng. Một giun móc cái có thể đẻ từ 10.000-25.000 trứng/ngày, giun mỏ cái có thể đẻ từ 5.000-10.000 trứng/ngày. Đời sống của giun móc dài khoảng 4-5 năm và giun mỏ dài khoảng 10-15 năm nếu không được điều trị.

2. Phương thức lây truyền.

-  Qua đường da, niêm mạc: ấu trùng giun móc/giun mỏ giai đoạn III xâm nhập vào cơ thể người qua da, niêm mạc (kẽ ngón chân, cẳng chân...) theo tĩnh mạch về tim, phổi. Tại phổi, ấu trùng thay vỏ 2 lần thành ấu trùng giai đoạn IV và V, ấu trùng giai đoạn V lên họng hầu và được nuốt lại xuống ruột, ký sinh ở tá tràng và phát triển thành giun móc/giun mỏ trưởng thành.
-  Qua đường ăn uống: thức ăn, nước có nhiễm ấu trùng.
Không có lây truyền trực tiếp từ người sang người.

GIUN KIM

1. Nguồn truyền nhiễm.

- Ổ chứa: là người đặc biệt là trẻ nhỏ.
- Thời gian ủ bệnh: không rõ ràng. Khi nuốt phải trứng giun có ấu trùng vào dạ dày, ấu trùng thoát vỏ, di chuyển đến manh tràng và thành giun trưởng thành sau 2 - 4 tuần.
- Thời kỳ lây truyền: là khoảng thời gian từ khi giun kim cái trưởng thành được thụ tinh và đẻ trứng. Giun kim đực sẽ bị chết sau khi thụ tinh cho giun kim cái. Giun kim cái đẻ khoảng 4.000-16.000 trứng. Sau khi đẻ hết trứng, giun sẽ teo lại và chết. Đời sống của giun kim khoảng 1-2 tháng.

2. Phương thức lây truyền.

- Qua đường ăn uống: do dùng tay gãi hậu môn có trứng giun kim sau đó cầm thức ăn uống, hoặc do mút tay ở trẻ nhỏ.
- Tuy nhiên giun kim còn có đường truyền nhiễm bất thường là chu kỳ ngược dòng: Trứng giun kim phát triển thành ấu trùng tại các nếp rãnh hậu môn và nở thành ấu trùng. Những ấu trùng này chui vào hậu môn và di chuyển ngược lên manh tràng để phát triển thành giun trưởng thành. Kiểu chu kỳ này hiếm gặp.
- Theo Vise, Rodenwaldt, Rocke Mann, có thể do ảnh hưởng của men tiêu hoá, do hàm lượng oxy trong ống tiêu hoá, giun kim có thể đẻ ở ruột, ấu trùng có thể phát triển thành giun trưởng thành ngay tại ruột.

GIUN ĐŨA CHÓ MÈO

1. Nguồn truyền nhiễm.

- Ổ chứa: Chó là ổ chứa của toxocara canis và mèo là ổ chứa của toxocara cati; ổ chứa trứng giun là đất, nước nhiễm phân chó mèo.
- Thời gian ủ bệnh: từ vài tuần đến vài tháng phụ thuộc vào mức độ nhiễm ấu trùng giun nhiều hay ít và tính nhạy cảm của người bệnh. Trường hợp ăn gan nhiễm bệnh mà chưa được nấu chín thì thời gian ủ bệnh có thể là vài ngày hoặc chỉ vài giờ. Người nuốt phải trứng giun toxocara, khi đến ruột non trứng nở giải phóng ấu trùng, ấu trùng chui qua thành ruột di chuyển đến gan. Từ gan, ấu trùng qua hệ tuần hoàn và bạch huyết di chú đến các tổ chức khác như phổi, nội tạng ở bụng, mắt v.v gây ra các tổn thương ở nội tạng. Ấu trùng toxocara không thể phát triển thành giun trưởng thành trong cơ thể người và không thể tái lặp chu kỳ sống ở người. Ấu trùng có thể tồn tại trong các tổ chức nhiều năm nếu không được điều trị.
- Thời kỳ lây truyền: Chó con bị nhiễm bệnh từ chó mẹ qua rau thai hoặc qua bú sữa mẹ. Khoảng 3 tuần tuổi chúng đã có thể thải trứng giun toxocara ra ngoại cảnh.

2. Phương thức lây truyền: Qua đường ăn uống: do nuốt phải trứng giun có trong đất hoặc nước bị nhiễm phân chó mèo hoặc nuốt phải ấu trùng giun khi ăn thịt chó mèo chưa nấu chín. Không lây truyền trực tiếp từ người sang người. 
 

 

ĐIỀU TRỊ

Điều trị nhiễm giun đũa phối hợp giun móc, giun tóc:

  • Albendazole 400 mg liều duy nhất hoặc 400 mg/ngày x 3 ngày.
  • Mebendazole 500mg liều duy nhất hoặc 500 mg/ngày x 3 ngày,
  • Pyrantel pamoate 10 mg/kg cân nặng hoặc 10 mg/kg cân nặng/ngày x 3 ngày.
  • Liều abedazole 200mg được khuyển cáo cho những trẻ nhỏ hơn 24 tháng tuổi.
  1. Cách dùng:
  • Thuốc uống vào bất kỳ thời gian nào trong ngày sau khi ăn.
  • Trẻ nhỏ phải nghiền thuốc pha với nước uống.
  • Nên nhai thuốc tẩy giun và uống với nước

* Nguồn tham khảo:


BS. TRẦN QUÝ THIỆN

 

Hen suyễn ở trẻ em

Email In PDF.

Hen suyễn ở trẻ em là gì?

Hen suyễn ở trẻ em cũng giống bệnh phổi ở người lớn mắc phải, nhưng trẻ em thường có các triệu chứng khác. Các bác sĩ cũng gọi đây là bệnh hen suyễn .

Nếu con bạn bị hen suyễn, phổi và đường thở của chúng có thể dễ dàng bị viêm khi chúng bị cảm lạnh hoặc môi trường xung quanh có phấn hoa . Các triệu chứng có thể khiến con bạn khó thực hiện các hoạt động thường ngày hoặc ảnh hưởng giấc ngủ . Đôi khi, một cơn hen suyễn có thể khiến trẻ đi đến bệnh viện một chuyến.

Không có cách chữa bệnh hen suyễn ở trẻ em, nhưng bạn nên đưa trẻ đến bác sĩ để điều trị và ngăn ngừa tổn thương cho phổi đang phát triển ở trẻ.

 

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh hen suyễn ở trẻ em

Không phải tất cả trẻ em đều có các triệu chứng hen suyễn giống nhau . Một đứa trẻ thậm chí có thể có các triệu chứng khác nhau từ giai đoạn này sang giai đoạn tiếp theo. Các dấu hiệu và triệu chứng hen suyễn ở trẻ em bao gồm:

  • Một cơn ho kéo dài (có thể là triệu chứng duy nhất)
  • Những cơn ho thường xuyên xuất hiện, đặc biệt là khi chơi hoặc tập thể dục , vào ban đêm, khi trời lạnh hoặc lúc trẻ cười hoặc khóc
  • Ho nặng hơn sau khi nhiễm virus
  • Trẻ ít chơi đùa hơn
  • Tránh các hoạt động thể thao hoặc xã hội
  • Khó ngủ vì ho hoặc khó thở
  • Thở nhanh
  • Tức ngực hoặc đau
  • Thở khò khè , thở rít khi hít vào hoặc thở ra
  • Dấu rút lõm lồng ngực
  • Thở hụt hơi
  • Cơ cổ và cơ ngực gồng lên
  • Trẻ cảm thấy yếu đuối hoặc mệt mỏi
  • Khó ăn, hay lè nhè khi ăn (ở trẻ sơ sinh)

Bác sĩ sẽ kiểm tra bất kỳ dấu hiệu bệnh khiến trẻ khó thở.

 

Khi nào cần được đưa đến cơ sở y tế khẩn cấp:

Một cơn hen nặng cần đưa đến cơ sở y tế ngay lập tức. Theo dõi các dấu hiệu sau:

  • Dừng lại giữa câu để hít thở
  • Dùng cơ bụng để thở
  • Một dấu rút lõm dưới xương sườn của trẻ khi trẻ cố gắng hít thở
  • Cơ ngực và hai bên kéo vào khi chúng thở
  • Lỗ mũi nở rộng
  • Tim đập nhanh
  • Đổ mồ hôi nhiều hơn bình thường
  • Đau ngực

Nguyên nhân và tác nhân gây ra bệnh hen suyễn ở trẻ em

Các yếu tố phổ biến bao gồm:

  • Nhiễm trùng đường thở. Bao gồm cảm lạnh , viêm phổi và viêm xoang .
  • Dị ứng. Con bạn có thể bị dị ứng với những thứ như gián, mạt bụi , nấm mốc , lông da thú cưng và phấn hoa .
  • Chất kích thích. Những thứ như ô nhiễm không khí, hóa chất, không khí lạnh, mùi hoặc khói có thể gây khó thở ở trẻ
  • Tập thể dục . Nó có thể dẫn đến thở khò khè, ho và gồng cơ ngực.
  • Căng thẳng . Nó có thể làm cho con bạn khó thở và làm trầm trọng thêm các triệu chứng của chúng.

 Các yếu tố nguy cơ hen suyễn ở trẻ em

Hen suyễn là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh lâu dài ở trẻ em. Nó ảnh hưởng đến khoảng 7 triệu trẻ em ở Hoa Kỳ. Những con số này đã tăng lên, và các chuyên gia không chắc chắn tại sao.

Hầu hết trẻ em có triệu chứng đầu tiên lúc 5 tuổi. Nhưng hen suyễn có thể bắt đầu ở mọi lứa tuổi.

Những điều có thể khiến trẻ dễ bị hen suyễn bao gồm:

Nguồn: WEBMD

Người dịch: BS Dương Thanh Trang Đài

 

 

Các thuốc “đánh cắp” dưỡng chất và cách ngăn chặn

Email In PDF.

Vì sao thuốc gây thiếu hụt dưỡng chất?

Sự thiếu hụt dưỡng chất là một trong những tác dụng phụ của thuốc, xảy ra do thuốc ngăn chặn quá trình hấp thu, dự trữ, chuyển hóa hoặc tổng hợp những dưỡng chất quan trọng của cơ thể. Khi những chất này bị thiếu hụt trong thời gian dài có thể gây nên các vấn đề sức khỏe khác nhau, tuy nhiên, tác dụng phụ đáng chú ý này lại thường bị các bác sĩ, dược sĩ bỏ qua.

Khi dùng thuốc cần sự thăm khám và tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Ảnh: TM

Thuốc nào gây thiếu hụt dưỡng chất và cách khắc phục ra sao?

 - Thuốc ức chế bơm proton

Thuốc ức chế bơm proton (như omeprazole, esomeprazole…) thường được kê đơn trong các trường hợp ợ nóng, ngăn ngừa và điều trị loét dạ dày. Thuốc có tác dụng ức chế tiết acid, do đó làm giảm hấp thu những dưỡng chất cần môi trường acid để hấp thu là sắt, canxi, magie, vitamin C và B12. Thiếu canxi trong thời gian dài có thể gây loãng xương, thiếu magie có thể dẫn đến chuột rút, chán ăn. Thiếu sắt có thể gây ra các chứng bệnh thiếu máu khiến người bệnh mệt mỏi, khó thở, bồn chồn và rụng tóc. Người cao tuổi là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất do họ thường phải dùng thuốc trong thời gian dài, cộng với việc họ thường sẵn có các vấn đề về hấp thu do tuổi tác và thường không ăn nhiều.

Do đó, trong quá trình dùng thuốc nhóm này, cần phải dùng thêm một số thực phẩm giàu dưỡng chất như: rau, đậu và thịt bò, gan gà, hàu, nghêu, bơ, sữa, phomat...

- Thuốc lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu được chỉ định trong điều trị các bệnh tim mạch như suy tim, tăng huyết áp. Thuốc có tác dụng tăng sự đào thải muối và nước ở thận, kéo theo đó là sự thay đổi nồng độ kali trong cơ thể, làm tăng hoặc giảm lượng kali tùy vào từng loại thuốc lợi tiểu khác nhau. Kali máu thấp có thể khiến bệnh nhân thấy buồn nôn, lờ đờ. Ngược lại, kali máu cao có thể gây chóng mặt, choáng váng, bất thường nhịp tim. Do đó, bệnh nhân điều trị dài ngày bằng thuốc lợi tiểu cần kiểm tra nồng độ kali máu thường xuyên. Bệnh nhân cần được bổ sung kali trong trường hợp sử dụng các thuốc lợi tiểu gây mất kali như furosemide, hydroclorothiazide, indapamide...

- Các thuốc corticoid

Các thuốc chống viêm corticosteroid như prednisone, prednisolone, dexamethasone được chỉ định rất nhiều trong các bệnh như hen phế quản, viêm khớp, viêm thần kinh, viêm mũi dị ứng... Các thuốc này ảnh hưởng đến nồng độ canxi và vitamin D trong cơ thể, làm giảm hấp thu canxi ở ruột do đối kháng vitamin D và tăng đào thải canxi tại thận. Bệnh nhân điều trị bằng thuốc steroid liều cao trong thời gian dài cần tham khảo ý kiến bác sĩ để chủ động bổ sung canxi và vitamin D đề phòng loãng xương. Ngoài ra, các thuốc steroid cũng làm giảm lượng kali của cơ thể.

Bệnh nhân nên uống dạng viên bao đường, viên bao phim để giảm kích thích niêm mạc dạ dày và hạn chế ảnh hưởng lên sự hấp thu dưỡng chất. Các thuốc steroid dạng hít, bôi ngoài da ít hấp thu nên thường không gây ra tác dụng phụ này.

- Thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh nhưng chúng cũng tiêu diệt luôn các “vi khuẩn tốt” làm đảo lộn sự cân bằng hệ vi sinh đường ruột, đặc biệt là khi sử dụng các kháng sinh phổ rộng trong thời gian dài. Tác dụng này có thể gây ra tiêu chảy dẫn đến mất các loại muối khoáng như natri và kali, các vitamin tan trong nước như vitamin C và kẽm. Ở những người khỏe mạnh, cơ thể có thể tự bổ sung các chất này trong vài ngày. Tuy nhiên, những đối tượng như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai rất dễ bị tổn thương, suy giảm muối khoáng có thể dẫn đến kiệt sức, mệt mỏi, nôn, chuột rút. Do vậy, cần được bổ sung nước và muối khoáng bằng các dung dịch bù nước chứa glucose, muối natri và kali, điển hình là oresol.

Sau quá trình sử dụng kháng sinh, cần phải bổ sung thêm nguồn thực phẩm như sữa chua, rau cải chua và men vi sinh để cân bằng hệ vi sinh đường ruột..

DS. Nguyễn Ngọc Vũ Nam

 

 


Trang 9 trong tổng số 25

Tuyển dụng

Tiếp nhận Phản ánh

Công tác xã hội

Facebook Page

https://suaralama.info/ loker situbondo

Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam

Địa chỉ: 46 Lý Thường Kiệt, Phường Hòa Thuận, Tp. Tam Kỳ, Quảng Nam.
Điện thoại: Hành chính 02353 845 717 - Cấp cứu 02353 845 900

Thông báo: Một số file pdf trong những bài đăng cũ nếu không xem được, hãy sửa đường dẫn "http://benhviennhi.quangnam.gov.vn/..." thành "http://benhvienphusannhi.quangnam.gov.vn/...". Trân trọng!